Bệnh ung thư cổ tử cung: dấu hiệu, nguyên nhân và điều trị

Deal Score0
Deal Score0

Gần 530.000 ca mắc mới, 270.000 ca tử vong vì bệnh ung thư cổ tử cung trên toàn cầu mỗi năm. Nếu so sánh với ung thư vú thì cứ mỗi 2 ca tử vong vì ung thư vú là sẽ có 1 ca tử vong do ung thư cổ tử cung.

Việt Nam nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ mắc và tử vong do cao nhất thế giới. Vậy nguyên nhân là do đâu? Nếu bị ung thư cổ tử cung có chữa được không? Cách phát hiện, điều trị và phòng tránh như thế nào?

Bài ngày hôm nay sẽ phần nào giải đáp được cho bạn những câu hỏi kể trên. 

Bệnh ung thư cổ tử cung là gì?

Cổ tử cung gồm 2 phần: cổ ngoài và cổ trong. Trong đó, cổ ngoài là các tế bào biểu mô lát giống tế bào biểu mô lát của âm đạo nhưng trơn láng hơn. Cổ trong là biểu mô tuyến gần giống như biểu mô của nội mạc tử cung.

Ung thư cổ tử cung( cervical cancer) là khi các tế bào ở cổ tử cung loạn sản, phát triển quá mức kiểm soát. Các tế bào này tạo thành các khổi u ở cổ tử cung. Các khối u có thể khu trú tại cổ tử cung hoặc di căn sang những bộ phận khác của cơ thể.

Hình ảnh cổ tử cung bị nhiễm HPV sinh ung

Cổ tử cung bị ung thư: các tế bào phát triển quá mức kiểm soát

Lên đầu trang ↑

Dấu hiệu nhận biết bệnh ung thư cổ tử cung

Nếu có các dấu hiệu dưới đây bạn cần nhanh chóng đến gặp bác sĩ để kiểm tra. Đừng chủ quan bỏ qua bất kỳ chi tiết nào vì nó có thể là dấu hiệu ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu.

  • Âm đạo bị xuất huyết bất thường không phải do chu kỳ kinh nguyệt.
  • Dịch âm đạo có màu bất thường( xanh hoặc vàng) kèm theo mủ lẫn máu.
  • Đi tiểu khó và đau.
  • Đau khi quan hệ tình dục.
  • Đau vùng quanh xương chậu.
  • Đau lưng lan xuống vùng chân.
  • Rối loạn chu kỳ kinh nguyệt.

Lên đầu trang ↑

Nguyên nhân gây bệnh

Nhiễm trùng dai dẵng những type HPV sinh ung thư là nguyên nhân cần thiết của bệnh ung thư cổ tử cung. Thực tế, gần 100% các ca bệnh trên toàn thế giới có liên quan đến virus HPV sinh ung.

a. Tổng quan về virus HPV

  • HPV là viết tắt của Human Papilloma Virus. Đây là một virus gây bệnh đường sinh dục rất nguy hiểm ở cả nam lẫn nữ.
  • HPV là siêu vi đường kính 55 nm chứa chuỗi đôi DNA bên trong vỏ bao hình cầu( vỏ capsid).
  • Đường lây truyền thường gặp nhất là giao hợp.
  • Khoảng 200 type được định danh.
  • 40 type gây bệnh đường sinh dục.
  • Khoảng 15 type gây bệnh ung thư cổ tử cung.
  • Có 5 type HPV chiếm đến 80% trường hợp là HPV 16,18,31,33,45. Trong đó 2 type HPV 16, 18 chiếm 70%.

b. Điều kiện dẫn đến ung thư cổ tử cung

– Nhiễm type HPV sinh ung ví dụ như HPV 16,18.

– Thời gian nhiễm kéo dài: từ 6-12 tháng cùng type. 

Nhiễm dai dẵng virus HPV là nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Nhiễm dai dẵng virus HPV từ 6-12 tháng là nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Lên đầu trang ↑

Đối tượng nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung

Các đối tượng dưới đây thuộc nhóm nguy cơ cao:

  • Độ tuổi: từ 40-70 tuổi.
  • Hút thuốc lá.
  • Sinh nhiều con: sinh từ 5 con trở lên.
  • Quan hệ tình dục sớm( dưới 18 tuổi)
  • Có nhiều bạn tình.
  • Vệ sinh cá nhân kém.
  • Suy giảm hệ thống miễn dịch như nhiễm HIV/AIDS, dùng corticoid kéo dài, hóa trị liệu.
  • Thuốc ngừa thai dạng uống, yếu tố gia đình có người từng bị ung thư cổ tử cung.
  • Tiền sử viêm đường sinh dục nhiều lần.
  • Mắc một số bệnh lây truyền qua đường tình dục, ví dụ bệnh Chlamydia.
Lên đầu trang ↑

Các giai đoạn phát triển của bệnh

Quá trình tiến triển của bệnh chia thành 4 giai đoạn, từ I đến IV, với IV là giai đoạn nặng nhất. Hệ thống phân loại các giai đoạn ung thư cổ tử cung được xây dựng bởi Liên đoàn Sản phụ khoa quốc tế( International Federation of Gynecology and Obstetrics – FIGO):

  • Giai đoạn Ia: Ung thư xâm lấn cổ tử cung nhưng chưa lan( chỉ nhìn được bằng kính hiển vi).
  • Giai đoạn Ib: Ung thư có thể nhìn thấy không cần kính hiển vi hoặc rộng hơn 5 mm, sâu hơn 7 mm.
  • Giai đoạn IIa: Ung thư lan ra khỏi cổ tử cung đến phần trên âm đạo, chưa đến 1/3 ngoài âm đạo.
  • Giai đoạn IIb: Ung thư lan xuống vùng quanh tử cung.
ung thư cổ tử cung được chia thành 4 giai đoạn

Tiến trình ung thư cổ tử cung trải qua nhiều giai đoạn

  • Giai đoạn IIIa: Ung thư lan xuống 1/3 ngoài âm đạo nhưng chưa qua khỏi thành chậu.
  • Giai đoạn IIIb: Ung thư di căn ra ngoài vách chậu và/hoặc làm nghẽn dòng nước tiểu đến bàng quang.
  • Giai đoạn IVa: Ung thư lan đến bàng quang hay trực tràng.
  • Giai đoạn IVb: Ung thư di căn đến các cơ quan xa. Ví dụ như gan, phổi…

Ung thư cổ tử cung có chữa được không? Kết quả điều trị tùy thuộc người bệnh đang ở giai đoạn ung thử cổ tử cung nào. Giai đoạn I có tỷ lệ sống sau 5 năm là 80%. Giai đoạn II có tỷ lệ sống sau 5 năm là 50%. Giai đoạn III là 20-30%, trong khi giai đoạn IV chỉ đạt 10% sống sau 5 năm. Lên đầu trang ↑

Chẩn đoán bệnh ung thư cổ tử cung

a. Phết tế bào cổ tử cung( Pap Smear)

Phương pháp Pap Smear là một xét nghiệm tế bào học nhằm tìm ra những tế bào bất thường trong biểu mô cổ tử cung. Các bác sĩ sẽ lấy tế bào ở cổ ngoài và cổ trong của tử cung. Các tế bào này sẽ được soi dưới kính hiển vi để tìm ra những bất thường về cấu trúc tế bào.

b. Soi cổ tử cung( Khi Pap Smear có bất thường)

Trường hợp làm Pap Smear thấy có bất thường về cấu trúc tế bào thì bác sĩ tiến hành soi cổ tử cung.

Để soi cổ tử cung, bác sĩ sẽ chiếu một luồng ánh sáng vào âm đạo tới cổ tử cung. Hình ảnh máy thu được sẽ được phóng to lên gấp nhiều lần, qua đó sẽ dễ dàng phát hiện ra những tổn thương tế bào mà bệnh nhân đang gặp phải. 

soi cổ tử cung giúp phát hiện các tế bào bất thường

Soi cổ tử cung giúp phát hiện các tế bào bất thường

Bác sĩ cũng sẽ thoa 1 dung dịch vào cổ tử cung nên có thể bạn sẽ cảm thấy bị bỏng nhẹ:

  • Chứng nghiệm Hinselmann( chứng nghiệm acid acetic): bôi acid acetic 3%, vùng tổn thương trở nên trắng đục, vết trắng cổ tử cung thể có hình chấm đáy hoặc hình lát đá.
  • Chứng nghiệm Schiller: Bôi dung dịch Lugol 3%, vùng tổn thương không bắt màu nâu.

c. Sinh thiết chẩn đoán bệnh ung thư cổ tử cung

Sinh thiết tế bào cổ ngoài và/hoặc nạo ống(kênh) cổ tử cung. Tế bào được lấy từ vùng chuyển tiếp và vùng nghi ngờ, cho phép khảo sát mô học một cách chính xác và đầy đủ. 

Để thực hiện, sau khi bôi dung dịch lugol hoặc acid acetic phát hiện vùng tổn thương, bác sĩ sẽ cắt một mẫu nhỏ mô để làm xét nghiệm tế bào ung thư cổ tử cung.

d. Chẩn đoán hình ảnh

Để giúp đánh giá đầy đủ mức độ lan tràn và xâm lấn của ung thư, có thể chỉ định một số thăm dò sau: siêu âm, chụp UIV, chụp cắt lớp vi tính( CT scan), cộng hưởng từ hạt nhân( MRI).

Lên đầu trang ↑

Điều trị ung thư cổ tử cung

Khi đã chẩn đoán mắc bệnh ung thư cổ tử cung thì kế hoạch điều trị sẽ được bác sĩ đặt ra. Phương pháp điều trị chủ yếu là can thiệp ngoại khoa và liệu pháp xạ trị( đặt hạt phóng xạ tại chỗ ở âm đạo hay buồng tử cung để tiếp xúc trực tiếp với khối u). Một số trường hợp có thể thêm hóa liệu pháp.

Nếu ung thư chỉ giới hạn ở cổ tử cung thì phẩu thuật khoét chóp hay cắt cụt với phụ nữ trẻ, còn mong muốn có con và được theo dõi. Với phụ nữ nhiều tuổi hơn thì phẩu thuật cắt bỏ tử cung hoàn toàn.

a. Tổn thương dạng u sùi

Các tổn thương ở cổ tử cung có dạng súp lơ hay sùi mào gà. Trường hợp này bác sĩ sẽ chỉ định thuốc kích thích miễn dịch tại chỗ dưới dạng kem và những thuốc phá hủy tổn thương.

b. Tổn thương tiền ung thư( trước giai đoạn ung thư và ung thư di căn)

Trường hợp này chỉ định cắt bỏ tổn thương khá phổ biến. Chỉ cần gây tê tại chỗ và với thao tác đơn giản là có thể chữa khỏi hoàn toàn đến 95% các trường hợp. Thể tích cổ tử cung nói chung vẫn được bảo tồn nên không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh sản của phụ nữ. 

c. Ung thư và ung thư di căn

Đây là giai đoạn nặng của bệnh ung thư cổ tử cung. Các tổn thương rất rộng và có thể lan ra nhiều nơi( hậu môn, bàng quang, âm đạo, âm hộ).

Trường hợp này phải xạ trị, phẩu thuật cắt bỏ hoàn toàn hoặc dùng đến tia laser để phá hủy tế bào bị nhiễm. Liệu pháp này phải được thực hiện ở các bệnh viện uy tín và phải được gây mê toàn thân. 

d. Các kỹ thuật điều trị ung thư cổ tư cung thường được áp dụng:

  • Cắt bỏ mô nghi ngờ bằng điện: cho dòng điện đi qua một vòng dây kim loại để lấy đi khu vực cổ tử cung có tổn thương nghi ngờ.
  • Khoét chóp: Khoét bỏ phần tổn thương ở cổ tử cung. Phương pháp này thực hiện tại bệnh viện và có thể ra về trong ngày.
  • Liệu pháp điện đông: Gây đông lạnh mô nghi ngờ gây bệnh ung thư cổ tử cung để mô tự rụng sau một vài ngày.
  • Liệu pháp laser: dùng chùm tia laser chiếu vào vùng mô nghi ngờ để phá hủy mô.
Lên đầu trang ↑

Phòng chống ung thư cổ tử cung

Có 2 cấp độ phòng tránh ung thư cổ tử cung:

– Cấp 1( nguyên phát): Phòng ngừa nhiễm HPV.

– Cấp 2( thứ phát): Tầm soát và điều trị tổn thương tiền ung thư.

Phòng chống ung thư cổ tử cung

Tiêm vắc xin và tầm soát thường xuyên để phòng ngừa và điều trị sớm ung thư cổ tử cung

a. Tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh ung thư cổ tử cung

  • Chủng ngừa là dự phòng cấp một ngừa nhiễm virus HPV.
  • Thời điểm tối ưu chủng ngừa là trước khi có nguy cơ nhiễm HPV( trước khi quan hệ tình dục). Tổ chức Y tế thế giới WHO khuyến cáo bé gái từ 9-10 tuổi nên được tiêm phòng vắc xin ung thư cổ tử cung.
  • Phụ nữ trưởng thành vẫn nên tiêm phòng vì:

+ Nguy cơ nhiễm, tái nhiễm HPV là suốt đời 

+ Miễn dịch tự nhiên của cơ thể là không đủ để bảo vệ tái nhiễm hay bệnh lý. 

  • Không đòi hỏi sàn lọc/xét nghiệm tế bào ung thư cổ tử cung trước khi tiêm.
  • Vắc xin Gardasil có hiệu lực chống lại HPV 16,18 gây ung thư cổ tử cung và 2 type HPV 6, 11 gây bệnh mào gà sinh dục. Bạn cũng lưu ý rằng, vắc xin Gardasil chỉ phòng được 2 type HPV 16,18 chứ không phòng 100% các type HPV.
Tiêm vắc xin để phòng virus HPV

Tiêm vắc xin Gardasil giúp phòng tránh nhiễm HPV 16,18 gây ung thư cổ tử cung

b. Tầm soát bệnh ung thư cổ tử cung

Tầm soát và điều trị tổn thương tiền ung thư, trong đó Pap smear là phương pháp ra đời sớm nhất và vẫn là phương pháp phổ biến nhất hiện nay. 

  • Tất cả phụ nữ nên bắt đầu tầm soát từ tuổi 21 trở đi.
  •  Phụ nữ trong độ tuổi từ 21 – 29 nên làm xét nghiệm Pap Smear 3 năm một lần. Không cần phải làm xét nghiệm HPV, trừ khi kết quả Pap bất thường.
  • Phụ nữ trong độ tuổi từ 30 – 65 nên thử nghiệm Pap và xét nghiệm HPV cùng lúc, 5 năm 1 lần hoặc xét nghiệm Pap 3 năm một lần.
  • Phụ nữ trên 65 tuổi và những xét nghiệm trước đó đều bình thường thì có thể dừng khám ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ đã từng bị chẩn đoán tiền ung thư cổ tử cung thì nên tiếp tục sàng lọc.

Tichico không đưa ra lời khuyên, chẩn đoán hay điều trị thay bác sĩ. Nếu có gì bất thường hãy đến ngay bệnh viện uy tín để được khám và điều trị bệnh ung thư cổ tử cung chính xác nhất.  

Tác giả: DS. Lê Tài
Tham vấn y khoa: BS. Đào Xuân Dũng

Ngày đăng: Tháng Mười Một 7, 2019 | Lần cập nhật cuối: Tháng Mười Một 7, 2019


Tài liệu tham khảo

1. Cervical cancer. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/cervical-cancer/symptoms-causes/syc-20352501 Ngày truy cập 7/11/2019

2. Cervical cancer. https://www.medicalnewstoday.com/articles/159821.php Ngày truy cập 7/11/2019

3. Cervical cancer. https://www.webmd.com/cancer/cervical-cancer/cervical-cancer#1 Ngày truy cập 7/11/2019

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Trung bình: 0 / 5. Lượt đánh giá: 0

Chưa có đánh giá nào. Hãy là người đầu tiên!

Ngọc Bích

Sở thích của mình là du lịch, ăn uống và chia sẻ. Mong rằng, với mỗi bài viết trong website sẽ mang đến cho bạn nhiều điều bổ ích.

Ý KIẾN CỦA BẠN VỀ BÀI VIẾT

      NHẬP NỘI DUNG

      Register New Account
      Reset Password